Cần tạo điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp vừa và nhỏ bật lên; nếu rút hỗ trợ ngay, họ sẽ bị hẫng vì
vốn ít, sức cạnh tranh thấpNội dung chính của gói kích cầu tiếp theo
không tập trung vào vốn, lãi suất mà là tạo môi trường, tạo điều kiện
tốt để doanh nghiệp (DN) sản xuất kinh doanh, như giúp DN tìm thị
trường, xúc tiến thương mại, giảm thủ tục hành chính. Sâu hơn là tạo
điều kiện cho DN nâng cao trình độ kỹ thuật, cải thiện hạ tầng, hệ
thống pháp luật để có được môi trường kinh doanh thông thoáng hơn.
Cuối tháng 9 sẽ trình Chính phủ
Gói
kích cầu đầu tiên đã rót vốn để DN vượt qua cơn nguy cấp, trụ lại được
thì nay cần hỗ trợ toàn diện hơn để tạo sức bật tăng trưởng. Chương
trình kích cầu mới phải toàn diện, không chỉ vốn và lãi suất. Riêng về
vốn, DN nào cần vẫn được hỗ trợ tiếp. Hiện Chính phủ giao Bộ Kế hoạch -
Đầu tư làm đầu mối cùng các bộ Tài chính, Công Thương và Ngân hàng Nhà
nước lập đề án kích cầu tiếp cho nền kinh tế, theo kế hoạch, cuối tháng
9 sẽ trình Chính phủ.
“Địa
chỉ” kích cầu là rất quan trọng. Nếu bơm vốn không đúng chỗ, không đúng
đối tượng sẽ phản tác dụng, tạo sự mất công bằng, rủi ro, gây méo mó
thị trường, tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Nếu kéo dài kích cầu
sẽ tạo ra sức ỳ, sự dựa dẫm trong các DN. Vừa qua đã có hiện tượng cơ
chế hỗ trợ lãi suất khiến tín dụng VNĐ tăng trưởng ở mức cao, lãi suất
cho vay thấp hơn tiền gửi, làm sai thực chất khối lượng vốn huy động và
lãi suất thị trường.
Chương
trình kích cầu tới đây cần tập trung hỗ trợ cho các DN vừa và nhỏ vì
khối DN này mới trụ vững được chứ chưa đủ sức phát triển bền vững trong
điều kiện còn nhiều khó khăn như hiện nay và năm sau. Nếu rút hỗ trợ
ngay, khối DN vừa và nhỏ sẽ bị hẫng. Bản thân các DN này vốn ít, sức
cạnh tranh thấp nên cần hỗ trợ nhiều, được tạo điều kiện thuận lợi thì
mới bật lên được. Đặc biệt, lưu ý hỗ trợ để các DN này tăng năng suất,
chất lượng hàng hóa thông qua đổi mới công nghệ.
Các doanh nghiệp đều có khả năng trả nợ
Đến
nay, gói kích cầu hỗ trợ lãi suất 4% cho vay vốn sản xuất lưu động sắp
về đích, trong khi đó có những đánh giá rất khác nhau về khả năng tiếp
cận của các DN vừa và nhỏ. Thực ra, vốn kích cầu đã giải ngân không
nhiều, tổng 17.000 tỉ đồng nhưng nay mới giải ngân được gần 500.000 tỉ
đồng, chỉ bằng khoảng 1/3 nhu cầu của DN vừa và nhỏ, như vậy chưa phải
đã giải quyết nhu cầu vay vốn mà mới chỉ là vốn “mồi” cho DN hoạt động.
Điều kiện cho vay khá chặt, ngân hàng không được hạ chuẩn cho vay nên
không phải tất cả hơn 100.000 DN đều đủ điều kiện vay. Số liệu của các
ngân hàng cho biết giải quyết được 91% hồ sơ đủ điều kiện nhưng xét
trong tổng số DN vừa và nhỏ được vay vốn hỗ trợ lãi suất thì chỉ chiếm
60% tổng số lượng. Các đánh giá vênh nhau là vì thế.
Về
khả năng trả nợ của các DN, mặc dù có chỉ thị từ tháng 2-2009 nhưng đến
đầu tháng 4-2009, khoản vay sớm nhất mới được giải ngân. Đến nay, DN
mới trả nợ được vài ngàn tỉ đồng, còn lại đang trong chu kỳ sản xuất,
kinh doanh. Đánh giá chung là các DN vay vốn hỗ trợ lãi suất đều có khả
năng trả nợ được, không có đề xuất nào dãn, hoãn nợ.
Các
DN trước đây chưa đủ điều kiện vay vốn thì nay vẫn tiếp tục nộp hồ sơ,
đến cuối năm còn khoảng 200.000 tỉ đồng dành cho vay bù lãi suất 4% đối
với vốn lưu động. Đây là các DN khá yếu nhưng họ tự hoàn thành đủ điều
kiện vay chứ không phải do bên vay hạ chuẩn. Khoản này vẫn nằm trong dư
nợ của gói kích cầu cũ.
Lãi suất hỗ trợ nên chỉ 1% - 2% Ông
Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, cho rằng nếu
có thêm một gói kích cầu nữa sẽ tạo được bước đệm chống sốc cho nền
kinh tế và tạo khả năng tăng trưởng bền vững hơn. Nền kinh tế vẫn tăng
trưởng chậm, để đạt kế hoạch tăng GDP 5% cả năm thì hai quý cuối năm
phải tăng 6%. Trong khi đó, hàng tồn kho công nghiệp tăng chứng tỏ nền
kinh tế tăng trưởng chưa bền vững. Do đó, VN cần thêm đòn bẩy để bảo
đảm sự phục hồi bền vững.
TS
Nguyễn Thị Mùi, Giám đốc Trường Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực
Vietinbank, cho rằng hiện chênh lệch lãi suất huy động và cho vay rất
thấp trong khi lãi suất huy động luôn có xu hướng tăng. Điều này cho
thấy nền kinh tế vẫn đang có khả năng hấp thụ vốn. Cần có gói hỗ trợ
lãi suất với quy mô nhỏ hơn, mức độ hỗ trợ thấp hơn (khoảng 1%-2%) và
thu hẹp lại đối tượng.
|